TRANG THƠ HOÀNG NGUYÊN CHƯƠNG
  • TRANG CHỦ
  • THƠ SÁNG TÁC
    • THƠ MỚI >
      • Thơ sáng tác phần 1
      • Thơ sáng tác phần 2
      • Thơ sáng tác phần 3
      • Thơ sáng tác phần 4
      • Thơ sáng tác phần 5
    • THƠ ĐƯỜNG
  • THƠ DỊCH
    • Thơ dịch chữ Hán
    • Thơ Anh
    • Thơ Pháp
    • Thơ dịch các nước khác
  • Trang ghi chép
  • LIÊN HỆ

Thơ Edmund Spenser

10/11/2015

0 Comments

 

                                Edmund Spenser
                            (1552/1553   –   1599)  Anh

Picture

         Edmund Spenser sinh ở London, là nhà thơ Anh nổi tiếng thời Phục Hưng, trước cả Shakespeare Ông có bài ​​thơ sử thi The Faerie Queene.được đánh giá là một kiệt tác
Giới thiệu một bài thơ sonnet:
 
My Love Is Like To Ice
             (Sonnet 30)
My love is like to ice, and I to fire:
How comes it then that this her cold so great
Is not dissolved through my so hot desire, 
But harder grows the more I her entreat?
Or how comes it that my exceeding heat
Is not allayed by her heart-frozen cold,
But that I burn much more in boiling sweat,
And feel my flames augmented manifold?
What more miraculous thing may be told, 
That fire, which all things melts, should harden ice,
And ice, which is congeal's with senseless cold,
Should kindle fire by wonderful device?
Such is the power of love in gentle mind,
That it can alter all the course of kind. 
                           by Edmund Spenser
 
+ Dịch thơ:         
Mãnh lực tình yêu

 
Tôi hoá lửa trước người yêu băng giá.
Nàng lạnh lùng tôi chẳng hiểu vì sao.
Băng không tan trước cuồng nhiệt khát khao,
Tình khó chớm lẽ đâu tôi cầu khẩn?
Biết làm sao dẫu lòng  yêu nóng bỏng.
Khi tim nàng không hề giảm giá băng.
Tình tôi càng bốc chấy sục sôi hơn.
Sao ngọn lửa cứ bừng bừng quá thể?
Có điều gì lạ lùng hơn như thế.
Lửa nung tan lại làm cứng giá băng.
Khối băng hàn vô cảm tụ chia ngăn.
Mà ngọn lửa cứ bốc lên kỳ dị?
Đó là mãnh lực tình yêu, nhẹ nhàng trong tâm trí.
Nó có thể gây cho dòng sống đổi xoay chiều.
                     HOÀNG NGUYÊN CHƯƠNG dịch.
 
+Tham khảo bản dẫn giải theo nghĩa tiếng Anh hiện đại:
 
My beloved one is like to ice, and I to fire:
Why is it then that this her cold so great
Is not dissolv'd through my so hot desire,
But harder [her icy heart] grows the more I her entreat?
Or why is it that my exceeding heat
 Is not dampened by her heart-frozen cold,
Instead I burn much more in boiling sweat,
And feel my flames augmented manifold?
What more miraculous thing may be told,
Than that fire, which all things melts, should harden ice,
And ice, which is congealed by senseless cold,
Should kindle [and increase] fire by wonder causing devise?
Such is the power of love in gentle mind,
That it can alter all the course of life.
                                           
                                              *

0 Comments

Thơ Thomas  Moore

9/27/2015

0 Comments

 

                                    Thomas Moore
                    (1779 - 1852) Liên hiệp Anh (Ireland)

Picture
​Thomas Moore  sinh ngày 28 tháng 5 năm 1779 ở Dublin, Ireland (Ái Nhĩ Lan).  Mất ngày 25 tháng 2 năm 1852 ở Wiltshire, Anh. Ông  là một nhà thơ, nhạc sĩ, nhà kinh tế người Ireland. Thơ ông được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới.

1)    Bài 1:
                    Go, now, and dream 
                                      (Sicilian Air) 
Go, now, and dream o’er that joy in thy slumber – 
Moments so sweet again ne’er shalt thou number. 
Of Pain’s bitter draught the flavor ne’er flies, 
While Plearsure’s scarce touches the lip ere it dies. 
Go, then, and dream, etc. 

That moon, which hung o’er your parting, so splendid, 
Often will shine again, bright as she then did – 
But, never more will the beam she saw burn 
In those happy eyes, at your meeting, return, 
Go, then, and dream, etc.


•    Dịch thơ:
Hãy ngủ đi và đón ước mơ

Nào, hãy ngủ đi và mơ thấy niềm vui
Đón ngọt ngào vô biên trong khoảnh khắc.
Cho vị đắng của khổ đau tan mất.
Cho bờ môi chạm biết những niềm vui.
Hãy ngủ đi, và mơ ước em ơi!...

Buổi chia tay, bóng trăng treo huyền ảo.
Vẫn sáng trong như đã sáng lâu rồi.
Nhưng không thể còn mơ màng bừng tỏa.
Hạnh phúc đong đầy ánh mắt thuở nào vui.
Hãy ngủ đi, và mơ ước em ơi!...
           HOÀNG NGUYÊN CHƯƠNG dịch


2) Bài 2:
Fare thee well, thou lovely one! 
                             (Sicilian Air) 

Fare thee well, thou lovely one! 
Lovely still, but dear no more; 
Once his soul of truth is gone, 
Love’s sweet life is o’er. 

Thy words, what e’er their flattering spell, 
Could scarce have thus deceived; 
But eyes that acted truth so well 
Were sure to be believed. 

Then, fare thee well, thou lovely one! 
Lovely still, but dear no more; 
Once his soul of truth is gone, 
Love’s sweet life is o’er. 

Yet those eyes look constant still, 
True as stars they keep their light; 
Still those cheeks their pledge fulfil 
Of blushing always bright. 

‘T is only on thy changeful heart 
The blame of falsehood lies; 
Love lives in every other part, 
But there, alas! he dies. 

Then, fare thee well, thou lovely one! 
Lovely still, but dear no more; 
Once his soul of truth is gone, 
Love’s sweet life is o’er.

•    Dịch thơ:

Vĩnh biệt anh, anh thật đáng yêu!.

Vĩnh biệt anh, anh thật đáng yêu!.
Đáng yêu vẫn còn, nhưng chân tình không còn nữa.
Khi tâm hồn trung thực đã ra đi.
Sự sống ngọt ngào của tình yêu chỉ còn tan vỡ.

Những lời anh có bùa mê tâng bốc.
Có thể hiếm khi anh lừa dối thế này.
Nhưng ánh mắt khéo giả vờ trung thực.
Đã làm em tin tưởng đến thơ ngây.

Để rồi đó, vĩnh biệt anh, anh thật đáng yêu!
Đáng yêu vẫn còn, nhưng chân tình không còn nữa,
Khi tâm hồn trung thực đã ra đi.
Sự sống ngọt ngào của tình yêu chỉ còn tan vỡ.

Tuy ánh mắt vẫn còn nhìn đăm đắm.
Như vì sao giữ ánh sáng trong lành.
Còn trên má để làm tin, đáp ứng.
Luôn ửng hồng tươi sáng dẫu mong manh.

Đó là chỉ do trái tim thay đổi.
Trách làm chi những giả dối sai lầm.
Tình yêu sống trong mỗi phần khác nữa.
Nhưng ơ kìa! Nó đã chết rồi anh!

Để rồi đó, vĩnh biệt anh, anh thật đáng yêu!
Đáng yêu vẫn còn, nhưng chân tình không còn nữa,
Khi tâm hồn trung thực đã ra đi.
Sự sống ngọt ngào của tình yêu chỉ còn tan vỡ.
        HOÀNG NGUYÊN CHƯƠNG dịch


(*) Đâp là các bài dân ca thuộc vùng Sicily(tiếng Ý:Sicilia) do Thomas Moore biên soạn. Sicily là tên một hòn đảo lớn nhất ở biển Địa Trung Hải, nằm về phía nam nước Ý. Nơi đây có nhiều cảnh quan đẹp, đây là vùng tự trị của Ý., có diện tích 25.808 km2 với dân số 5 triệu.

3) Bài 3:
            If Thou'lt Be Mine
 
If thou'lt be mine, the treasures of air,
Of earth, and sea, shall lie at thy feet;
Whatever in Fancy's eye looks fair,
Or in Hope's sweet music sounds most sweet,    (1)
Shall be ours -- if thou wilt be mine, love!
 
Bright flowers shall bloom wherever we rove,
A voice divine shall talk in each stream;
The stars shall look like world of love,
And this earth be all one beautiful dream
In our eyes -- if thou wilt be mine, love!
 
And thoughts, whose source is hidden and high,
Like streams that come from heaven-ward hills,
Shall keep our hearts, like meads, that lie
To be bathed by those eternal rills,
Ever green, if thou wilt be mine, love!
 
All this and more the Spirit of Love
Can breathe o'er them who feel his spells;
That heaven, which forms his home above,
He can make on earth, wherever he dwells,
As thou'lt own, -- if thou wilt be mine, love!         (2)


•    Có bản chép khác:
(1)    Or in Hope's sweet music is most sweet,
(2)    And he will -- if thou wilt be mine, love!


•    Dịch thơ:
   Nếu em là của anh.

Nếu em là của anh – mọi kho báu của trời,
Của trái đất, đại dương – sẽ đặt nằm dưới chân em đó;
Cả mơ ước đẹp mắt nhìn rạng rỡ,
Cả tiếng nhạc du dương niềm hy vọng ngọt ngào,
Sẽ là của đôi ta – nếu em là người của anh yêu!

Đường ta dạo sẽ sáng bừng hoa nở,
Giọng thần tiên mang lời của suối reo;
Sao lặng nhìn lấp lánh cõi tình yêu,
Cả trái đất thành giấc mơ đẹp nhất,
Nếu em là người yêu – cảnh mộng đầy trong mắt!

Dẫu mạch nguồn suy tưởng  khuất trên cao,
Như suối đồi tự lưng trời đổ xuống,
Sẽ giữ hồn ta như cỏ đồng mơn mởn,
Được tắm nguồn vĩnh cửu suối mang theo,
Bao giờ cũng xanh – nếu em là người của anh yêu.

Mọi thứ có Đấng Tình Yêu tạo tác,
Hơi thở dành nhận biết nỗi si mê;
Cõi thiên đường hạnh phúc lối đi về,
Ngôi nhà ấy người đã ban trái đất,
Sẽ là của riêng em – Nếu em là người yêu thắm thiết.

•    HOÀNG NGUYÊN CHƯƠNG dịch
0 Comments

Thơ Andrew Marvell

9/19/2015

0 Comments

 

                                  Andrew Marvell
                                  (1621 – 1678) - Anh

Picture

       Andrew Marvell   là nhà thơ Anh, một trong những đại diện cuối cùng của phái siêu hình và là một bậc thầy thơ ca của chủ nghĩa cổ điển Anh.
         Xin giới thiệu bài thơ “To His Coy Mistress”, một bài thơ nổi tiếng của ông, đã được T.S. Eliot (Nobel văn học 1948) cho là một trong những bài thơ hay nhất của thi ca Anh.trong mọi thời đại.(*)


To his coy mistress

Had we but world enough and time,
This coyness, lady, were no crime.
We would sit down, and think which way
To walk, and pass our long love’s day.
Thou by the Indian Ganges’ side
Shouldst rubies find; I by the tide
Of Humber would complain. I would
Love you ten years before the flood,
And you should, if you please, refuse
Till the conversion of the Jews.
My vegetable love should grow
Vaster than empires and more slow;
An hundred years should go to praise
Thine eyes, and on thy forehead gaze;
Two hundred to adore each breast,
But thirty thousand to the rest;
An age at least to every part,
And the last age should show your heart.
For, lady, you deserve this state,
Nor would I love at lower rate.
 
 But at my back I always hear
Time’s wingèd chariot hurrying near;
And yonder all before us lie
Deserts of vast eternity.
Thy beauty shall no more be found;
Nor, in thy marble vault, shall sound
My echoing song; then worms shall try
That long-preserved virginity,
And your quaint honour turn to dust,
And into ashes all my lust;
The grave’s a fine and private place,
But none, I think, do there embrace.
 
Now therefore, while the youthful hue
Sits on thy skin like morning dew,
And while thy willing soul transpires
At every pore with instant fires,
Now let us sport us while we may,
And now, like amorous birds of prey,
Rather at once our time devour
Than languish in his slow-chapped power.
Let us roll all our strength and all
Our sweetness up into one ball,
And tear our pleasures with rough strife
Through the iron gates of life:
Thus, though we cannot make our sun
Stand still, yet we will make him run.
 
·       + Dịch thơ:
       Gửi người yêu bẽn lẽn

Nếu chúng ta có  đủ không gian và thời gian.    (1)
Sự bẽn lẽn của người yêu không phải là có tội.
Chúng ta hãy ngồi, nghĩ mọi điều sắp tới,
Để tản bộ dạo chơi, thông qua chuyện tình yêu.
Em sẽ lang thang bên sông Hằng Ấn Độ,    (2)
tìm những viên hồng ngọc, còn anh theo đợt thủy triều,
bên dòng Hăm-be (3) u uẩn. Anh sẽ
yêu em mười năm, trước khi trận lũ ngập tràn. (4)
Em có vui lòng chấp nhận cùng anh, hay em từ chối,
cho tới khi có cuộc chuyển đổi lòng tin của người Do Thái.(5)
Tình yêu thực vật (6) của anh sẽ phát triển vươn xa,
Rộng lớn hơn đế quốc bao la, và chậm hơn,
một trăm năm để đi và ca ngợi,
Về vầng trán em, đôi mắt nhìn đắm đuối.
Hai trăm năm để yêu bộ ngực tuyệt vời.
Và ba mươi nghìn năm cho các phần còn lại...,
Dành mỗi phần cho tuổi em thuở còn thơ dại,
Và em sẽ thể hiện trái tim nơi độ tuổi sau cùng.
Cô gái yêu, em xứng giá thiên hương!
Anh có thể nào yêu em thấp hơn mức đó.
                             *
Nhưng ở bên sau mình, anh luôn nghe rõ.
Cỗ xe chắp cánh thời gian đang hối hả đến gần, (7)
Nơi cõi xa xôi, trước lúc chúng ta nghỉ yên nằm.
Sa mạc mênh mông vĩnh hằng vô tận.
Vẻ đẹp em sẽ vùi theo số phận. (8)
Trong hòm đá hoa (9) của em cũng sẽ bặt âm thanh.
Chôn bài hát điệp âm anh một thuở si tình
Để sau đó lũ giòi sâu dùng thử.
Cả trái cây trinh bạch, từ lâu em gìn giữ.
Cả danh dự kiêu kỳ cũng sẽ hóa thành tro.
Lửa tình anh cũng tắt ngấm bao giờ.
Mọi thứ đáng yêu đều vào chung lòng mộ..
Nhưng mà không! Anh nghĩ em sao nỡ...  
Sẽ vì anh, em ôm giữ tình yêu.
                                        *
Vậy, bây giờ, tuổi xuân em vừa chớm.
Như sương mai lóng lánh phủ làn da
Khi hồn em muốn vượt thoát bay ra.
Từ mọi lỗ chân lông bừng lửa ngay tức khắc
Vậy bây giờ, hãy cùng vui khi chúng mình tương đắc.(10)
Như con chim đa tình trước miếng mồi ban.
Có một lần vồ ngấu nghiến tham lam.
Hơn chậm chạp, ngước mỏ chờ háo hức.
Hãy để chúng ta gom cuộn toàn sức lực.
Và tất cả hương vị ngọt ngào thành quả bóng, chuyền nhau,
Hãy xé toạc niềm vui, va mãnh liệt, đón đầu.
Để xuyên qua cánh cổng sắt cuộc đời, vốn đang chặn lại.
Nếu chúng ta không thể giữ cho mặt trời đứng mãi.
Thì chúng ta phải làm cho nó chuyển vần xoay.
                            HOÀNG NGUYÊN CHƯƠNG dịch
                                      
+Chú thích:
     (*)  - Bài thơ này được Andrew Marvell sáng tác vào  giữa những năm từ 1650 đến 1652 và được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1681, nghĩa là sau khi Marvell mất đã 3 năm. Kể từ khi được công bố bài thơ đã rất nổi tiếng. Sau đó tác giả của nó lại bị chìm vào quên lãng.
         Đến đầu thế kỷ 20, nhà thơ T.S. Eliot (giải Nobel văn học năm 1948) mới tìm thấy thần tượng  của mình và cho bài thơ “To His Coy Mistress” là một trong những bài thơ hay nhất của thi ca Anh trong mọi thời đại, đồng thời đã lấy một vài ý tưởng đưa vào bài thơ “The Love Song of J. Alfred Prufrock” (Bản tình ca J. Alfred Prufrock” của mình, cụ thể là 2 câu: “.Let us roll all our strength and all / Our sweetness up into one ball, (Hãy để chúng ta gom cuộn toàn thể sức lực, và tất cả /  hương vị ngọt ngào thành quả bóng). Eliot đã mượn ý tưởng này để diễn đạt thành : To have squeezed the universe into a ball): (Nén vũ trụ vào trong quả bóng). Bài thơ “To His Coy Mistress” lại chắp cánh cùng với tác giả
(1)   Câu nguyên tác: “Had we but world enough and time” ( Nếu chúng ta có đủ thế giới và thời gian). Từ thế giới (World) ở đây được hiểu như “không gian”, nên theo tôi câu có nghĩa là: “Nếu chúng ta có đủ không gian và thời gian”
(2)   Sông Hằng Ấn Độ (Indian Ganges): Con sông dài 2510 km, xuất phát từ dãy Himalaya, chảy qua miền bắc Ấn Độ đến vịnh Bengal. Các tín đồ Ấn Độ giáo cho đây là dòng sông thiêng liêng.
(3)   Hăm-be(Humber):Tên con sông ở miền đông bắc nước Anh, dài 60 km, sông  chảy qua Hull, quê hương của Andrew Marvell.
(4)  Nguyên tác:Yêu em mười năm trước khi có trận lũ (Love you ten years before the flood,):
Trận lũ này là ám chỉ trận lũ đại hồng thủy ở thời Nô-ê (Noah) đã tràn ngập cả địa cầu, chỉ còn con tàu chở gia đình của Nô-ê là sống sót. Ý nhân vật nam trong bài thơ muốn nói là tình yêu của mình dành cho cô gái là tình yêu tràn ngập trước thời gian dẫu cho sau đó thế giới loài người có bị hủy diệt.
(5)   Nguyên tác: Cuộc chuyển đổi của người Do Thái (the conversion of the Jews):Đây là một thuật ngữ đã sử dụng quen thuộc của phương Tây Ám chỉ việc chuyển đổi đức tin của người Do Thái. Trước kia họ chỉ tin vào Do Thái giáo tuyệt đối nhưng vào các thời đại sau họ đã chuyển đổi đức tin theo Kito giáo.
Ý chàng trai muốn nói dù gặp phải sự từ khước của cô gái nhưng chàng trai vẫn theo đuổi tình yêu này cho đến khi cô gái chuyển đổi để chấp nhận như tình trạng chuyển đổi lòng tin của người Do Thái,.
(6)   Tình yêu thực vật (vegetable love):
Hiểu theo nghĩa đen mà các nhà phê bình phân tích thì  tình yêu thực vật là tình yêu được gieo trồng và nuôi dưỡng như một loại rau để nó luôn luôn được khởi sắc và phát triển nhanh.. Đây là loại tình yêu tự nhiên dẫn đến mà không bị một áp lực nào. Hiểu theo một cách khác, đây là loại “tình yêu hữu cơ”, nghĩa là tình yêu thuộc thế giới sinh vật mang đặc thù của những sinh vật có cơ quan thực hiện chức năng sống, có quan hệ không thể tách rời nhau để cùng tồn tại.
          Các nhà phê bình phương Tây đã  đánh giá câu thơ “My vegetable love should grow” này, là câu thơ nổi tiếng nhất của bài thơ.
(7)   Cỗ xe có cánh thời gian (Time’s wingèd chariot):Theo thần thoại Hy Lạp, thần Apollon được xem là thần Mặt trời mang ánh sáng xuống cả vũ trụ, thế gian. Thần đi bằng cỗ xe ngựa vàng có cánh thời gian, hàng ngày đi từ đông sang tây.Ý tác giả muốn ám chỉ về thời gian trôi qua nhanh mà đời sống con người lại quá ngắn ngủi..
(8)Vẻ đẹp em sẽ vùi theo số phận. Dịch thoát câu nguyên tác: “Thy beauty shall no more be found;”( Vẻ đẹp em sẽ không còn tìm thấy nữa đâu.)
(9) Hòm đá hoa (marble vault): Chỉ hòm mộ cô gái trẻ được xây bằng đá hoa (tức là đá cẩm thạch).
(10) Vậy bây giờ, hãy cùng vui khi chúng mình tương đắc. Dịch thoát . Trong nguyên tác: “Now let us sport while we may,”(Bây giờ chúng ta hãy chơi thể thao, khi chúng ta có thể.). Từ Sport còn có nghĩa là vui đùa, giỡn, giải trí. vv....


                                                     
   *










0 Comments

Thơ T.S. Eliot

9/1/2015

0 Comments

 

                                T.S. Eliot
                             (Thomas Stearns Eliot)
                                (1888  -  1965 )- Anh

Picture

                                                               T. S. Eliot in 1934
      Thomas Stearns Eliot sinh ở St Louis, Missouri, học ở Đại học Harvard, định cư ở Anh năm 1914, là nhà thơ Anh gốc Mỹ và còn là  nhà viết kịch, nhà phê bình văn học . Ông đoạt giải Nobel văn học năm 1948, được tôn vinh là “người có.sự cách tân  tiên phong trong xây dựng nền thi ca hiện đại”. Trong mắt người Anh, ông được bình chọn là nhà thơ vĩ đại nhất của mọi thời đại.
Xin giới thiệu bài thơ đầu tay nổi tiêng của ông.

The Love Song of J. Alfred Prufrock

 S’io credesse che mia risposta fosse 
A persona che mai tornasse al mondo, 
Questa fiamma staria senza piu scosse. 
Ma percioche giammai di questo fondo 
Non torno vivo alcun, s’i’odo il vero, 
Senza tema d’infamia ti rispondo.


Let us go then, you and I,
When the evening is spread out against the sky
Like a patient etherized upon a table;
Let us go, through certain half-deserted streets,
The muttering retreats                                                             5
Of restless nights in one-night cheap hotels
And sawdust restaurants with oyster-shells:
Streets that follow like a tedious argument
Of insidious intent
To lead you to an overwhelming question ...                     10
Oh, do not ask, “What is it?”
Let us go and make our visit.
 
In the room the women come and go
Talking of Michelangelo.
 
The yellow fog that rubs its back upon the window-panes,           15
The yellow smoke that rubs its muzzle on the window-panes,
Licked its tongue into the corners of the evening,
Lingered upon the pools that stand in drains,
Let fall upon its back the soot that falls from chimneys,
Slipped by the terrace, made a sudden leap,                                                20
And seeing that it was a soft October night,
Curled once about the house, and fell asleep.
 
And indeed there will be time
For the yellow smoke that slides along the street,
Rubbing its back upon the window-panes;                                      25
There will be time, there will be time
To prepare a face to meet the faces that you meet;
There will be time to murder and create,
And time for all the works and days of hands
That lift and drop a question on your plate;                                                30
Time for you and time for me,
And time yet for a hundred indecisions,
And for a hundred visions and revisions,
Before the taking of a toast and tea.

In the room the women come and go                                                35
Talking of Michelangelo.
 
And indeed there will be time
To wonder, “Do I dare?” and, “Do I dare?”
Time to turn back and descend the stair,
With a bald spot in the middle of my hair —                                  40
(They will say: “How his hair is growing thin!”)
My morning coat, my collar mounting firmly to the chin,
My necktie rich and modest, but asserted by a simple pin --
(They will say: “But how his arms and legs are thin!”)
Do I dare                                                                                                45
Disturb the universe?
In a minute there is time
For decisions and revisions which a minute will reverse.
 
For I have known them all already, known them all:
Have known the evenings, mornings, afternoons,                          50
I have measured out my life with coffee spoons;
I know the voices dying with a dying fall
Beneath the music from a farther room.

So how should I presume?
 
And I have known the eyes already, known them all—                 55
The eyes that fix you in a formulated phrase,
And when I am formulated, sprawling on a pin,
When I am pinned and wriggling on the wall,
Then how should I begin
To spit out all the butt-ends of my days and ways?                                   60
 And how should I presume?
 
And I have known the arms already, known them all--
Arms that are braceleted and white and bare
(But in the lamplight, downed with light brown hair!)
Is it perfume from a dress                                                                   65
That makes me so digress?
Arms that lie along a table, or wrap about a shawl.

 And should I then presume?
And how should I begin?
 
Shall I say, I have gone at dusk through narrow streets                 70
And watched the smoke that rises from the pipes
Of lonely men in shirt-sleeves, leaning out of windows? ...

I should have been a pair of ragged claws
Scuttling across the floors of silent seas.
 
And the afternoon, the evening, sleeps so peacefully!                  75
Smoothed by long fingers,
Asleep ... tired ... or it malingers,
Stretched on the floor, here beside you and me.
Should I, after tea and cakes and ices,
Have the strength to force the moment to its crisis?                      80
But though I have wept and fasted, wept and prayed,
Though I have seen my head (grown slightly bald) brought in upon a platter,
I am no prophet — and here’s no great matter;
I have seen the moment of my greatness flicker,
And I have seen the eternal Footman hold my coat, and snicker,                  85
And in short, I was afraid.
 
And would it have been worth it, after all,
After the cups, the marmalade, the tea,
Among the porcelain, among some talk of you and me,
Would it have been worth while,                                                       90
To have bitten off the matter with a smile,
To have squeezed the universe into a ball
To roll it towards some overwhelming question,
To say: “I am Lazarus, come from the dead,
Come back to tell you all, I shall tell you all”—                             95
If one, settling a pillow by her head
Should say: “That is not what I meant at all;
That is not it, at all.”
 
And would it have been worth it, after all,
Would it have been worth while,                                                       100
After the sunsets and the dooryards and the sprinkled streets,
After the novels, after the teacups, after the skirts that trail along the floor--
And this, and so much more?--
It is impossible to say just what I mean!
But as if a magic lantern threw the nerves in patterns on a screen:      105
Would it have been worth while
If one, settling a pillow or throwing off a shawl,
And turning toward the window, should say:

 “That is not it at all,
 That is not what I meant, at all.”         110

                                      
 No! I am not Prince Hamlet, nor was meant to be;
Am an attendant lord, one that will do
To swell a progress, start a scene or two,
Advise the prince; no doubt, an easy tool,
Deferential, glad to be of use,                                                                        115
Politic, cautious, and meticulous;
Full of high sentence, but a bit obtuse;
At times, indeed, almost ridiculous--
Almost, at times, the Fool.
 
I grow old ... I grow old ...                                                                    120
I shall wear the bottoms of my trousers rolled.
 
Shall I part my hair behind?   Do I dare to eat a peach?
I shall wear white flannel trousers, and walk upon the beach.
I have heard the mermaids singing, each to each.
 
I do not think that they will sing to me.                                            125
 
I have seen them riding seaward on the waves
Combing the white hair of the waves blown back
When the wind blows the water white and black.


We have lingered in the chambers of the sea
By sea-girls wreathed with seaweed red and brown                       130
Till human voices wake us, and we drown.
                                        T.S. Eliot
 

·      +  Dịch thơ:

Bản tình ca của Alfred Prufrock     (1)
 
               Nếu ta nghĩ rằng câu trả lời của ta                (2)
                      Sẽ tới một kẻ nào, khi có ngày họ trở về trần thế.
                      Ngọn lửa này sẽ không ngưng ánh sáng lập lòe.
                      Tuy nhiên, vì không bao giờ có ai quay trở lại.
                      Sống từ vực thẳm này – Ta hiểu đó là những gì sự thực.
                      Ta không sợ trước xấu xa sỉ nhục – Ta trả lời ngươi.      
                     

Chúng ta hãy cùng đi, các anh và tôi.
Khi bóng tối trải ra che khuất bầu trời,
Và mặt trời như bệnh nhân bị gây mê nằm trên bàn mổ.
Chúng ta hãy cùng đi, nửa hoang vắng trùm lên đường phố.
Vây quanh ta, ẩn náu, thì thầm.                                                              5
Đêm chưa ngưng cho một đêm trong khách sạn rẻ tiền.
Những nhà hàng mùn cưa (3) trơ vỏ sò vung vãi.
Phố tẻ nhạt như sau cuộc tranh luận chán nhàm,.
Của bao xảo quyệt lo toan.
Dẫn các anh đến câu hỏi đầy áp đảo....(4)                                                 10
Ô! Xin đừng hỏi “Có chuyện gì như thế?”.
Hãy để chúng ta làm cuộc viếng thăm..
 
Trong căn phòng phụ nữ đến và đi.
Họ lấy Mi-ken-lăng-giơ (5) làm đề tài trò chuyện.
 
Sương mù vàng cọ lưng trên những ô gương cửa sổ.                               15
Lẫn khói màu vàng đang cọ mõm như loài mèo,  (6)
Thè lưỡi liếm qua bao góc tối.
Còn nấn ná trên vũng nước tù, bám trên máng xối.
Để muội bồ hóng rơi trên lưng từ ống khói đen.
Trượt qua sân thượng làm cú nhảy bất ngờ.                                             20
Và khi thấy đó là đêm tháng Mười êm dịu.
Đã cuộn lại trên mái nhà, và dường như ngủ thiếp.
 
Và thực ra đã có thời gian,
Cho khói vàng lướt dọc theo dãy phố.
Để cọ lưng trên những ô gương cửa sổ.                                                     25
Sẽ có thời gian, sẽ có thời gian.                 (7)
Chuẩn bị một khuôn mặt để đáp ứng những khuôn mặt  mà các anh sẽ gặp.
Sẽ có thời gian để hủy diệt và thời gian để kiến tạo dựng xây.
Thời gian “Làm việc” và “ Ngày” cho đôi tay.      (8)
Nâng cao và nhỏ xuống một câu hỏi cho các anh trên chiếc đĩa. (9)    30
Thời gian cho các anh và thời gian cho tôi.
Và cả thời gian cho trăm điều do dự.
Cho trăm việc để nhìn và xem lại.
Trước khi cầm lấy miếng bánh mì nướng để ăn và để uống tách trà.
 
Trong căn phòng phụ nữ đến và đi.                                                           35
Họ lấy Mi-ken-lăng-giơ làm đề tài trò chuyện.
 
Và thực ra đã có thời gian
Để tự hỏi rằng: “Tôi có dám?” và “Tôi có dám?”
Thời gian trở về, tôi bước xuống cầu thang.
Trán tôi hói và tóc tôi lốm đốm.                                                                40
Họ sẽ nói “Sao tóc hắn trở nên thưa thớt!”
Áo khoác sáng của tôi, cổ bẻ đứng trước cằm.
Cà vạt sang, giản đơn nhưng bị chê vì chiếc kẹp xuềnh xoàng.
(Họ lại nói: “Tay chân hắn sao mà gầy thế!”)
Tôi có dám.                                                                                                   45
Làm rối phiền vũ trụ?
Trong một phút đi qua đã có của thời gian.
Để giải quyết, sửa sai, dẫu một phút thôi nói lên điều ngược lại.
 
Tôi vốn biết họ cả rồi, biết về tất cả.
Biết họ cả buổi mai, buổi chiều, buổi tối.                                                50
Tôi đo lường cuộc sống của tôi với chiếc muỗng cà phê.
Tôi đã biết âm thanh hấp hối của mùa thu.
Từ tiếng nhạc phát ra nơi căn phòng xa vắng.
Vậy tôi nên đoán thế nào?
 
Và tôi biết những con mắt của họ rồi, biết về tất cả.      55
Những đôi mắt dán vào các anh đã thành công thức.
Và khi tôi cũng bị thành công thức, nằm ườn trên chiếc đinh ghim.
Tôi đã bị ghim và quằn quại trên tường.
Biết nên mở đầu làm sao nữa?,
Làm sao tôi khạc ra tất cả mẫu tàn thuốc mỗi ngày của tôi và cách hút.   60
Và tôi nên đoán thế nào?
 
Tôi vốn biết những cánh tay của họ, biết về tất cả.
Những cánh tay đeo vòng xuyến, phô màu trắng để trần.
Buông thõng dưới ánh đèn, lộ rõ những sợi lông màu nâu nhạt.
Biết họ có ướp nước hoa trong váy?                                                         65
Tôi có lạc đề khi nhắc đến chuyện này không?
Những cánh tay nằm dọc trên bàn hoặc đè lên chiếc khăn san.choàng cổ.
Và để rồi làm sao tôi sẽ đoán,
Và tôi nên mở đầu như thế nào đây?

Vâng, tôi sẽ nói, tôi đã đi vào lúc hoàng hôn qua những con phố hẹp.   70
Nhìn sợi khói bay lên từ ống píp,
Từ tay áo sơ mi của những người đàn ông cô độc, đang nghiêng ngoài cửa sổ..
 
Tôi cần phải có đôi càng cua sứt mẻ,
Bỏ trốn ngang qua vùng đáy biển lặng câm. (10)

Và buổi chiều, buổi tối, những giấc ngủ bình yên.                                 75
Đã xoa dịu cho tình trạng kéo dài trì trệ.
Ngủ thiếp...mệt nhoài...hoặc vờ như đau ốm.
Nằm duỗi trên sàn nhà, cạnh nơi đây, tôi và các anh.
Tôi có nên, sau khi dùng trà, dùng kem và bánh ngọt.
Có sức lực để ép mình ngay trong cơn khủng hoảng?                            80
Mặc dù tôi đã khóc, nhịn ăn – khóc và cầu nguyện.
Dù tôi đã thấy đầu mình (trọc hói thưa dần) như đĩa phẳng.
Tôi không phải nhà tiên tri (11) – và đây cũng không có vấn đề gì lớn,
Tôi đã thấy trong khoảnh khắc mong manh vĩ đại của mình.
Tôi đã thấy người hầu vĩnh cửu (12) giữ cái áo khoác của tôi và cười khúc khích.            85
Trong khoảng ngắn trôi qua, tôi sợ hãi rùng mình.
 
Và sau cùng, nó phải có giá trị riêng của nó.
Sau cái tách, mứt cam, trà.
Giữa đồ sứ, giữa vài câu chuyện của tôi và các anh.
Nó phải có giá trị riêng trong đó.                                                               90
Để cắt đứt vấn đề với một nụ cười.
Nén vũ trụ vào trong quả bóng.(13)
Cuộn tới một vài câu hỏi đầy áp đảo,
Để thốt lên: “Tôi là La-za-rút (14) về từ cõi chết,
Trở lại cùng các anh để nói về tất cả, tôi sẽ nói cùng các anh tất cả.” –     95
Nếu được một lần đặt gối dưới đầu nàng,
Tôi sẽ nói: “Đó không phải là những gì tôi muốn nói về tất cả,
Đó không phải là nó, không phải là tất cả.
 
Và nghiễm nhiên nó có giá trị sau cùng.
Có giá trị trong lúc này.                                                                               100
Sau khi mặt trời lặn, nơi mặt tiền cửa trước, nơi đường phố rải mưa.
Sau những cuốn tiểu thuyết, sau những tách trà, sau những váy đầm sờn cũ dọc trên sàn.
Và điều này như vậy có nhiều hơn? –
Nó không thể nói đúng những gì tôi muốn nói!
Nhưng như thể có một chiếc đèn lồng kỳ diệu, sáng lộ rõ hoa văn trên mỗi mặt hình.               105
Nó có giá trị trong lúc đó.
Nếu có lần đặt chiếc gối hay giật chiếc khăn choàng.
Và trở lại hướng về của sổ, tôi sẽ nói:
“Đó không phải là nó, không là tất cả.
Đó không phải là những gì tôi muốn nói về tất cả”    110                                         
Không! Tôi không phải là hoàng tử Hăm-lét (15), cũng không muốn nói việc này.
Tôi là người phục vụ cho Thượng đế, một người hành động,
Có tiến bộ đặc sắc, bắt đầu từ một màn kịch hoặc hai.
Tư vấn cho hoàng tử không do dự nghi ngờ, tôi là một công cụ dễ dàng.
Cung kính vui mừng khi được sử dụng.                                                    115
Thận trọng, tinh tường, tỉ mỉ.
Đầy rẫy những câu cao siêu nhưng có chút trì độn u mê..
Thực ra ở thời gian này, tất cả đều đáng buồn cười.
Ở thời gian này, tất cả đều  ngu ngốc..
 
Tôi đã già....Tôi đã già....                                                                             120
Tôi sẽ mặc đáy quần lụng thụng.
 
Tôi sẽ rẽ tóc ra sau? Tôi có dám ăn một trái đào?
Tôi sẽ mặc quần bằng vải fờ-la-nen trắng, bước trên bờ biển.dạo chơi.
Tôi nghe những nàng tiên cá hát, nghe mỗi một từng người.

Tôi không nghĩ rằng họ sẽ hát cho tôi.                                                      125
 
Tôi đã thấy họ cưỡi sóng đi trên hướng biển.
Chải tóc trắng của mỗi đầu ngọn sóng lượn qua.
Khi ngọn gió thổi về làm mặt nước có màu trắng đen pha lẫn..
 
Chúng ta sẽ bước đi từ từ trong không gian của biển.
Có vòng hoa biển bao quanh với rong biển màu đỏ và nâu.                 130
Cho tới khi có tiếng người đánh thức, và chúng ta chết đuối.
                                    HOÀNG NGUYÊN CHƯƠNG dịch


 
 
1)   Bản tình ca của J. Alfred Prufrock (The Love Song of J. Alfred Prufrock), là một tác phẩm đầu tay của Thomas Stearns Eliot viết năm 1910 – 1911) và đăng ở tạp chí Poetry năm 1915, đến năm 1917 được xuất bản trong tập thơ đầu tiên của Eliot. Ban đầu, Eliot đặt tên bài thơ là “Prufrock among the Women” (Prufrock giữa những phụ nữ).  Bài thơ được coi là một kiệt tác của phong trào thơ hiện đại(modernistic), được viết dưới hình thức“Kịch độc thoại nội tâm”(dramatic monologue) mượn từ lời nhân vật Prufrock. Nó chịu ảnh hưởng sâu sắc ở Thần khúc (La divina commedia) của Dante , Faust của Goethe, Hamlet của Shakespeare...,ảnh hưởng nghệ thuật trường phái thơ Tượng trưng (Symbolisme) của Pháp qua các tác giả như Mallarme, Rimbaud, Baudelaire....
           Bản tình ca mô tả tâm trạng của Prufrock, một người đàn ông ở độ tuổi trung niên, thuộc tầng lớp trung lưu, sống cô độc, không có tình yêu mặc dù quanh mình có rất nhiều phụ nữ trí thức , những người phụ nữ này có trình độ nên họ mới bàn luận về nghệ thuât thời Phục Hưng. Ông biết họ cả nơi tụ họp, đề tài câu chuyện, quen thuộc cả từng ánh mẳt, cánh tay trang sức, biết tất cả về nhiều vấn đề khác, nhưng với họ, ông không có tình cảm gì đặc biệt.. Chính nhân vật đã thú nhận: “Nếu được một lần đặt gối dưới đầu nàng,/Tôi sẽ nói: “Đó không phải là những gì tôi muốn nói về tất cả...”, chứng tỏ trái tim ông đã bị chai lì, hời hợt.
               Sống trong một thành phố hiện đại vô cảm, có bầu trời đầy khói và sương mù vàng, Prufrock đã không hài lòng với cuộc sống của mình,  luôn luôn có tâm trạng mâu thuẫn với thực tại. Ông cảm thấy cuộc sống của mìn bị soi mói, trống rỗng , vô vị và bị ghim quằn quại trong những công thức đầy định kiến. Thế giới bất ổn của ông bị phá vỡ cả không gian và thời gian nhưng ông không thể thay đổi được gì.. Bởi vậy, ông đâm ra thụ động, do dự, thiếu quyết đoán, Ông đành chấp nhận sự suy giảm về sức lực và tuổi già đang theo đến, đồng thời lo sợ cái chết sẽ xảy ra trong tương lai. Phải nói cuộc đời của ông là một sự vô vọng, không bao giờ bắt gặp được cái đẹp, cái thơ mộng  vì ngay cả tiếng hát của những nàng tiên cá , ông biết cũng không phải họ hát cho mình...
 Nói chung, Prufrock muốn thức dậy từ thế giới nội tâm nhưng đành bất lực và chết đuối trong nó như ông đã thốt ở câu kết thúc bài thơ.
        Bản tình ca không có tình yêu này đã được đánh giá là sâu sắc, và bước vào bài thơ là bước vào vùng ý thức. Con người ương ương dở dở của Prufrock để lại cho chúng ta nhiều ấn tượng đặc biệt bởi vì, dù sao khuôn mặt của Prufrock cũng là khuôn măt được chuẩn bị cho những khuôn mặt khác để đáp ứng với một tinh thần kỳ vọng cao hơn.. Đó là khuôn mặt dành cho sự  tái sinh tốt đẹp của  tương lai con người khi con người đã biết ý thức về thân phận con người..
 .- (2) Sáu câu thơ mở đầu bài thơ được trích từ Thần khúc (*) của Dante (Phần Địa ngục, khúc ca XXVII, từ câu 61 đến 66:
-  Nguyên tác tiếng Ý:
      S’io credesse che mia risposta fosse   61
      A persona che mai tornasse al mondo, 
      Questa fiamma staria senza piu scosse. 

     Ma percioche giammai di questo fondo 
      Non torno vivo alcun, s’i’odo il vero, 
     Senza tema d’infamia ti rispondo.                 66
 -       -  Bản dịch tiếng Anh của James Finn Cotter :
         "If I thought that my answer was to someone     61
         Who might one day return up to the world, 
         This flame would never cease its flickering. 
  
         "However, since no one ever turned back, alive, 
          From this abyss — should what I hear be true -- 
         Undaunted by infamy, I answer you.                             66

 -        -  Bản dịch tiếng Việt::
            Nếu ta nghĩ rằng câu trả lời của ta
            Sẽ tới một kẻ nào, khi có ngày họ trở về trần thế.
            Ngọn lửa này sẽ không ngưng ánh sáng lập lòe.
 
            Tuy nhiên, vì không bao giờ có ai quay trở lại.
            Sống từ vực thẳm này – Ta hiểu đó là những gì sự thực.
            Ta không sợ trước xấu xa sỉ nhục – Ta trả lời ngươi
                                                     Hoàng Nguyên Chương dịch
        Đây là lời của ngọn lửa thứ hai tiếp tục nói sau khi ngọn lửa thứ nhất bị tắt.Ngọn lửa xuất phát từ địa ngục được bọc trong tinh thần của  Guido da Montefeltro để nói với Dante.
Sáu câu này có mục đích để gợi ý rằng Prufrock, là một người có ý thức về cuộc sống địa  ngục của mình. Tiếng nói Prufrock được thốt lên từ địa ngục  mà chính bản thân mình không thể nào thoát ra được.
-         (*) Thần khúc (La divina commedia) là trường ca của nhà thơ Ý thời Trung cổ Dante Alighieri (1265-1321), là một trong số những nhà thơ kiệt xuất nhất của nước Ý và thế giới. Tác phẩm được sáng tác trong thời gian Dante bị trục xuất khỏi quê hương Florence, từ khoảng năm 1308 đến khi ông mất năm 1321, được viết bằng tiếng Ý gồm 100 khổ thơ với 14.226 câu thơ. Tác phẩm được xếp vào hàng những bản trường ca vĩ đại nhất của nền văn học thế giới.
-         (3) Nhà hàng mùn cưa (sawdust restaurants): Ý chỉ nhà hàng hoặc quán ăn có cơ sở vật chất tồi tàn vì đã sử dụng rải mùn cưa để hấp thụ nước uống giải khát và thực phẩm bị đổ để dễ dàng quét vào cuối ngày .
-(4) Câu hỏi áp đảo ( overwhelming question):Eliot đã mượn cụm từ này có ở  tiểu thuyết “Những người tiên phong”(the Pioneers) của nhà văn James Fenimore Cooper (1789 – 1851), Trong tiểu thuyết, một trong những nhân vật là Benjamin đã hỏi một loạt các câu hỏi kết thúc với những câu hỏi "áp đảo". 
-       (5 ) Mi-ken-lăng-giơ: (1475-1564): Phiên âm tên theo tiếng Pháp để dễ đọc. Tên đầy đủ  Michelangelo di Lodovico Buonarroti Simoni (1475-1564), thường gọi tắt là Michelangelo, là nhà điêu khắc, họa sĩ, kiến trúc sư người Ý,  là một trong những nghệ sĩ vĩ đại nhất trong lịch sử thời Phục Hưng và ngay cả trong mọi thời đại. Trong công trình điêu khắc, tượng David của ông là một tuyệt tác.

Picture

                                         Tượng David của Michelangelo
 (6)...Khói màu vàng cọ mõm như loài mèo: Ở câu thơ này, tác giả không có viết tên cụ thể về mèo (cat) nhưng qua hình ảnh diễn đạt về sương mù vàng và  khói vàng, các nhà nghiên cứu cho đây là Eliot taọ ra hình ảnh ẩn dụ về mèo và ý tưởng mèo đã từng xuất hiện trong một tác phẩm khác của Eliot.
-               Mặt khác, hình ảnh sương mù vàng, khói vàng qua hình ảnh ẩn dụ loài mèo cũng có thể ám chỉ về bài thơ Le Chat (The cat)  của Baudelaire (nhà thơ Pháp).
 (7)Sẽ có thời gian(There will be time...):Ý tưởng này Eliot lấy ý nghĩa ở câu thơ mở đầu:
            “Had we but world enough, and time”( Chúng ta có đủ cả thế giới và thời gian)
  trong bài thơ “To His Coy Mistress” của nhà thơ Andrew Marvell (1621–1678),
(8) Làm việc và Ngày (...the Works and Days...): Cụm từ có ý nghĩa liên quan đến bài thơ dài của  Hesiod,( một nhà thơ Hy Lạp, sống vào khoảng năm 700 trước Công Nguyên),Làm việc (Works) là đề cập đến lao động nông nghiệp- Và “Ngày” (Days) là thời kỳ của các năm để thực hiện một số công việc nhà nông.
(9) A question on your plate (một câu hỏi trên chiếc đĩa của bạn): Cụm từ này có ý nghĩa liên quan đến John the Baptist, là người người thúc giục người dân làm việc và cải thiện đời sống của họ.Thành quả mang lại trên chiếc đĩa có nghĩa là thành quả lao động được hưởng.
(10) Ragged claws, floors of silent seas (Càng cua sứt mẻ,vùng đáy biển im lặng): Nhân vật Prufrock có tâm trạng giông như loài cua sống ở dưới đáy biển, chỉ bò ngang mà không bao giờ bò hướng thẳng tới cũng giống như cuộc đời mình đi theo đường ngang,(Nghĩa là Prufrọc có tư tưởng nhưng không không bao giờ hướng tới hành động). Đáy biển cũng chính là vùng thẳm sâu biểu tượng như vùng địa ngục của Thần khúc.Đây là hai câu thơ nổi tiếng của Eliot.
(11) Nhà tiên tri: ám chỉ John the Baptist, nhà tiên tri Do Thái, sống vào cuối thế kỷ 1, trước Công nguyên. 
(12) Người hầu vĩnh cửu:(the eternal Footman):. Người hầu vĩnh cửu ở đây là một biểu tượng về cái chết; giúp con người đi vào thế giới bên kia.
(13)Nén vũ trụ vào trong quả bóng(To have squeezed the universe into a ball): Ý tưởng  này Eliot đã lấy ở các câu thơ trong bài “To coy Mistress”(Gửi người tình thùy mị) của nhà thơ Andrew Marvell (1621–1678) :” Let us roll all our strength and all / Our sweetness up into one ball, (Chúng ta hãy cuộn tất cả sức mạnh của chúng ta và tất cả / Vị ngọt của  chúng ta thành một quả bóng),
(14) La-za-rut ( Lazarus): Tên một nhân vật có trong Tân Ước, anh trai của Martha và Mary . Lazarus bị bện mất đã 4 ngày,  nhưng được Chúa Jesus Christ cứu sống lại.Lazarus  được hồi sinh và bước ra khỏi ngôi mộ.Lazarus là một biểu tượng của một người chết trở về từ cõi chết để phục sinh và bắt đầu trở lại tất cả cho sự sống..
- (15) Hoàng tử Hăm-lét (Prince Hamlet): Tên một nhân vật trong một vở kịch cùng tên
của Shakespeare ( 1564 – 1616) – nhà soạn kịch vĩ đại người Anh. Vở bi kịch thơ này là một trong những vở kịch nổi tiếng nhất của lịch sử sân khấu thế giới, đã được chuyển thể thành điện ảnh trên cả chục bộ phim ở nhiều nước.
      Hoàng tử Hamlet là con vua nước Đan Mạch, sinh viên trường đại học Wittenberg (Đức). Hamlet bị người chú là Claudius âm mưu giết cha mình để chiếm đoại ngai vàng và lấy mẹ mình sau 2 tháng vua cha mất.. Hamlet bị triệu về trong tình trạng quản thúc khéo và nhiều lần suýt bị ám hại. Hamlet biết được đã đối phó và sau đó tìm mọi cách trả thù. Tuy nhiên, Hoàng tử đã giết nhầm cha của người yêu mình là quận chúa Ophelia khiến nàng bị mất trí, bỏ đi lang thang và cuối cùng bị chết đuối. Rốt cuộc, trong một cuộc đấu kiếm với người anh của quận chúa, Hamlet cũng trả được thù, giết được người chú soán ngôi bạo ác nhưng chàng cũng bị thương nhiễm chất độc và bị chết.
         Vở kịch đã phản ánh được cả bộ mặt của một thời đại xấu xa đầy rẫy tội ác, đánh mất cả tính người, không còn tinh thần  nhân văn xã hội. Thực trạng này đã khiến cho Hamlet bị khủng hoảng, vật lộn với nhiều đau đớn tủi nhục, khiến chàng bi quan, hoài nghi về vấn đề tồn tại hay không tồn tại (To be or not to be). Chàng tự hỏi  giữa cái Chân và cái Giả,cái Thiện và cái Ác, giữa cái Tốt và cái Xấu,  con người phải vùng lên chống lạ cái Giả, cái Ác, cái Xấu hay tiếp tục chấp nhận, chịu đựng, phó mặc để nó xảy ra?. Và chàng đã mất phải nhiều thời gian do dự.
         Giới nghiên cứu văn học đã cho rằng “căn bệnh Hamlet” vẫn còn kéo dài về sau, ảnh hưởng không nhỏ trong những sáng tác văn học. Chính vì vậy nhân vật Prufrock của Eliot cũng không là trường hợp ngoại lệ..Nhân vật đang mang một bệnh trạng tâm lý ám ảnh về cuộc sống trong thời đại của mình mặc dù nội dung vấn đề có khác với hoàn cảnh của Hamlet...
(16)      Ý nghĩa về từ “Nó”(It): Những từ”Nó” có rải rác từ câu 87- câu 109, theo tôi nó có nghĩa : “Nó” là chỉ về  chân tướng của sự vật “Nó” là đối tượng của  ý thức chiêm nghiệm về kỳ vọng của tinh thần mà Prufrock đã hướng tới qua lời độc thoại.
                                                         
*

0 Comments

Thơ Christina Georgina Rossetti

8/4/2015

0 Comments

 

                           Christina Georgina Rossetti
                                 
(1830 – 1894) - Anh


Picture

Christina Georgina Rossetti sinh ở London, là nữ nhà thơ Anh gốc Ý, biết làm thơ từ năm 12 tuổi . Bà là tác giả của những bài thơ lãng mạn, trữ tình, ngoài ra bà còn làm thơ cho thiếu nhi và viết truyện.

1)     Bài 1: 

Who Has Seen the Wind?
 
Who has seen the wind?
Neither I nor you;
But when the leaves hang trembling
The wind is passing through.
 
Who has seen the wind?
Neither you nor I;
But when the trees bow down their heads
The wind is passing by.
 
·      +  Dịch thơ:
Hỏi ai thấy gió?
 
Hỏi ai từng thấy gió?
Đôi ta nào thấy đâu.
Nhưng khi lá run rẩy.
Biết gió luồn đuổi nhau.
 
Hỏi ai từng thấy gió?
Đôi ta nào thấy đâu.
Nhưng khi cây cúi đầu.
Biết gió luồn bên cạnh.
            HOÀNG NGUYÊN CHƯƠNG dịch
 
2) Bài 2:
            Remember
 
Remember me when I am gone away,
Gone far away into the silent land;
When you can no more hold me by the hand,
Nor I half turn to go yet turning stay.
 
Remember me when no more day by day
You tell me of our future that you planned:
Only remember me; you understand
It will be late to counsel then or pray.
 
Yet if you should forget me for a while
And afterwards remember, do not grieve:
For if the darkness and corruption leave
A vestige of the thoughts that once I had,
Better by far you should forget and smile
Than that you should remember and be sad.
 
·       + Dịch thơ:
           Nhớ
 
Hãy nhớ em khi em biến mất.
Rời xa anh về trong đất âm thầm.
Khi tay anh không thể còn lưu giữ.
Cũng không thể nửa chừng em quay lại cùng anh.
 
Hãy nhớ em khi ngày không hội diện.
Kể em nghe tương lai chuyện chúng mình.
Chỉ cần nhớ em là anh sẽ hiểu.
Nỗi muộn màng toan tính hoặc cầu kinh.
 
Dẫu có thể anh quên em một lúc.
Để về sau nhớ lại chẳng đau buồn.
Rồi bỏ mặc trong tối tăm, rữa nát.
Cả suy tư em có một lần hơn.
 
Điều tốt nhất, anh nên quên, nên cười vui vẻ.
Hơn là anh phải nhớ, phải đau buồn...
            HOÀNG NGUYÊN CHƯƠNG dịch


0 Comments

Thơ Rudyard Kipling

8/1/2015

0 Comments

 

                                        Rudyard Kipling
                                      ( 1865  -  1936 )- Anh

Picture

Joseph Rudyard Kipling sinh tại Mumbai Ấn Độ, là nhà văn, nhà thơ Anh đoạt giải Nobel Văn học năm 1907.
  
                     Blue Roses
  
 Roses red and roses white
 Plucked I for my love's delight.
 She would none of all my posies--
 Bade me gather her blue roses.
  
 Half the world I wandered through,
 Seeking where such flowers grew.
 Half the world unto my quest
 Answered me with laugh and jest.
  
 Home I came at wintertide,
 But my silly love had died,
 Seeking with her latest breath
 Roses from the arms of Death.
  
 It may be beyond the grave
 She shall find what she would have.
 Mine was but an idle quest--
 Roses white and red are best.

 ·        + Dịch thơ:
     Hoa hồng xanh
 
 Hoa hồng đỏ và hoa hồng trắng.
 Tôi hái tặng người yêu với tất cả chân thành.
 Mong nàng vui nhưng nàng không để ý.
 Bảo tôi hái cho nàng những đóa hồng xanh.
  
 Nửa thế giới tôi lang thang đây đó.
 Biết nơi đâu gặp được thứ hoa này.
 Nửa thế giới tôi săn lùng tìm kiếm.
 Sự thật trả lời đầy giễu cợt đắng cay.
  
 Tôi trở lại trong mùa đông u ám.
 Nhưng người yêu khờ dại đã qua đời.
 Tôi gặp nàng chỉ còn hơi thở cuối.
 Bàn tay Tử thần đã cướp đóa hồng rơi.
  
 Giờ có lẽ ở bên kia phần mộ.
 Nàng sẽ tìm được thứ sắc hoa mơ.
 Chỉ riêng tôi đã hoài công tìm kiếm.
 Khi hai sắc hồng xưa mang vẻ đẹp vô bờ.
                  HOÀNG NGUYÊN CHƯƠNG dịch
 

Picture
0 Comments

Thơ Doris Lessing

7/28/2015

0 Comments

 

                                         Doris Lessing
                                      (1919  - 2013 )- Anh

Picture

Tên thật là Doris May Tayler, sinh tại Kermanshah, một thành phố lớn của Persia ngày xưa và ngày nay là Iran. Giải Nobel văn học năm 2007.

  Dark girl’song

My love who has the tall pale face
Sits talking by the fire at evening
Visits the country of the cold canals
Goes to Where the Northern spires are
 
I say to him, My love, the summer’s soon
I have a dress, and scarlet shoes for the sea
My love who has the tall pale face
Is clever, and often very kind
                  Doris Lessing (1959)
                        Fourteen Poems
 
·        + Dịch thơ:
Bài ca của cô gái kín đáo

Người tôi yêu khuôn mặt gầy nhợt nhạt.
Ngồi chuyện trò bên ánh lửa chiều hôm.
Anh đến thăm vùng kênh đào lạnh giá.
Tháp vươn trời phía bắc đón người thương. 
 
Tôi bảo chàng mùa hè như đến sớm.
Trang phục này dành đi biển dạo chơi. (*)
Người tôi yêu khuôn mặt gầy nhợt nhạt.
Ắt hẳn thông minh, nhã nhặn tuyệt vời.
            HOÀNG NGUYÊN CHƯƠNG dịch
 
(*)Dịch thoát câu “I have a dress, and scarlet shoes for the sea” (Tôi có bộ váy và giày đỏ để đi biển).
- Mười bốn bài thơ (Fourteen Poems) của Doris Lessing được Scorpion Press xuất bản năm 1959. 

0 Comments

Thơ William Blake

12/28/2012

0 Comments

 
                                                  William Blake
                                                   (1757 - 1827) - Anh

Picture
    William Blake  sinh ngày 28.11.1757 tại London và mất ngày 12 . 08 .1827(69 tuổi) tại London, vương quốc Anh. Ông là nhà thơ, nhà họa sĩ và cũnglà người vẽ thiết kế in ấn.  Ông được đánh giá là một trong những nhà thơ lớn của thế kỷ XVIII và là danh nhân của thời đại.

Love’s secret
                     William Blake

Never seek to tell thy love,
Love that never told can be;
For the gentle wind does move
Silently, invisibly.


I told my love, I told my love,
I told her all my heart;
Trembling, cold, in ghastly fears,
Ah! she did depart!


Soon as she was gone from me,
A traveler came by,
Silently, invisibly
He took her with a sigh.

+Dịch thơ:

Bí mật của tình yêu
·        Nguyên tác:William Blake

Với tình yêu, đừng bao giờ diễn đạt.
Bởi tình yêu không thể nói nên lời.
Như cơn gió nhẹ nhàng khi chuyển động,
Im lặng, vô hình, nó vẫn vượt nơi nơi.

Để thổ lộ tình yêu, tôi từng nói...
Bày tỏ nàng bằng cả trái tim yêu.
Bằng run rẩy, sợ e nàng giá lạnh.
Ôi! Nàng vẫn xa rời, gây khổ biết bao nhiêu!

Chẳng bao lâu khi nàng lánh mặt.
Kẻ đưa tình bỗng bắt gặp lòng ai.
Nó lại đến trong vô hình, im lặng.
Cho hắn đón người yêu, khoan khoái thở dài.
                   HOÀNG NGUYÊN CHƯƠNG dịch

0 Comments

 Thơ Francis William Bourdillon 

10/14/2012

0 Comments

 
                  Francis William Bourdillon 
                          (1852  -  1921)

Picture
Francis William Bourdillon (22/3/1852 - 13/1/1921) (69 tuổi). Là nhà thơ , nhà viết tiểu
thuyết, nhà viết kịch, viết tiểu luận và dịch giả  người Anh. Từng làm giảng viên trường Đại học Eastbourne. Ông  nổi tiếng và được nhiều người biết đến nhờ bài thơ ngắn có tên “Đêm có ngàn con mắt” (The Night has a Thousand Eyes). 

The Night has a Thousand Eyes

                      by Francis William Bourdillon

The night has a thousand eyes,
And the day but one;
Yet the light of the bright world dies
With the dying sun.

The mind has a thousand eyes,
And the heart but one;
Yet the light of a whole life dies
When love is done.

                   (1874)

* Dịch thơ:

ĐÊM CÓ NGHÌN CON MẮT

 
Đêm tối có nghìn con mắt.
Ban ngày chỉ một mà thôi
Nhưng ánh sáng huy hoàng thế giới này sẽ tắt.
Nếu mất đi mặt trời.

Trí tuệ có nghìn con mắt.
Trái tim có một mà thôi.
Nhưng ánh sáng cả cuộc đời sẽ tắt.
Nếu tình yêu xa rời.

          *HOÀNG NGUYÊN CHƯƠNG dịch

  • Bài thơ này được Yanni phổ nhạc với tên là "Nightingale
 

0 Comments

Thơ Robert Burns

10/14/2012

2 Comments

 
                                              Robert Burns
                                                          (1759 – 1796)

Picture
      Robert Burns sinh ngày 25. 02. 1759 tại Alloway, Ayrshire, Scotland. Mất ngày 21. 07. 1796 tại Dumfries, Scotland ( 37 tuổi) .Ông là nhà thơ nổi tiếng của dân tộc Scotland(  nước Anh), tác giả của nhiều tập thơ, trường ca và những bài hát dân gian viết bằng tiếng Anh theo phương ngữ Scotland. 


 A Red, Red Rose
                  by Robert Burns


O  my Luve 's like a red, red rose
  That 's newly sprung in June;
O my Luve 's like the melodie
That's sweetly play'd in tune!

As fair art thou, my bonnie lass,
So deep in luve am I:
And I will luve thee still, my dear,
Till a' the seas gang dry.

Till a' the seas gang dry, my dear,
And the rocks melt wi' the sun;
I will luve thee still, my dear,
 While the sands o' life shall run.

And fare thee weel, my only Luve,
And fare thee weel a while!
And I will come again, my Luve,
Tho' it were ten thousand mile.
(Arthur Quiller-Couch, ed. 1919. The Oxford Book of English Verse: 1250–1900)

Picture
* Dịch thơ:

          NHƯ HOA HỒNG ĐỎ

Ôi! Người yêu như hoa hồng đỏ thắm.
Vừa nở ra trong tháng sáu diệu kỳ.
Ôi! Người yêu lời du dương êm ả,
Như điệu đàn gây đắm kẻ tình si.

Này em gái sắc hương đầy quyến rũ.
Trong tình yêu sâu thẳm của tâm hồn
Em có biết, anh sẽ yêu mãi mãi,
Cho tới ngày cạn hết nước trùng dương.

Em yêu ơi! Đến khi nào biển cạn,
Đá tan ra chảy dưới ánh mặt trời
Anh nguyện sẽ còn yêu em mãi mãi
Dẫu cuộc đời cát bụi cuộn dòng trôi.

Tạm biệt em người anh yêu duy nhất
Có chia tay cũng ngắn ngủi thôi mà!
Anh nhất định sẽ vì em trờ lại
Dẫu bên trời vạn lý cách rời xa.

                   *HOÀNG NGUYÊN CHƯƠNG dịch

2 Comments
<<Previous

    DANH MỤC TÁC GIẢ:

    All
    Andrew Marvell - Anh
    Christina Georgina Rossetti
    Christopher Marlowe
    Doris Lessing - Anh
    Edgar Allan Poe
    Edmund Spensẻ
    Francis William Bourdillon
    John Keats
    Lord Byron
    Percy Bysshe Shelley
    Robert Burns
    Rudyard Kippling - Anh
    Sara Teasdale
    Sir Walter Raleigh
    Thomas Moore - Liên Hiệp Anh
    T.S. Eliot (Anh)
    William Blake
    William Shakespeare

Powered by Create your own unique website with customizable templates.